nhiễm độc giáp với bướu lan tỏa

Biểu hiện của bệnh là có bướu giáp trạng đơn nhân độc, bướu lan tỏa, bướu đa nhân hóa độc. Người mắc bệnh có triệu chứng run tay, cảm giác nóng, thích tắm nhiều lần trong ngày (kể cả mùa lạnh), hay hồi hộp, khó thở khi gắng sức. Với những người mắc bệnh Bướu cổ lan tỏa: nơi toàn bộ tuyến gần cạnh sưng lên và sờ vào có xúc cảm mịn. Bướu cổ dạng hạt: nơi những cục rắn hoặc chứa đầy chất lỏng bên phía trong tuyến giáp; gây xúc cảm sần sùi khi va vào. Những hạt này còn có thể cá biệt hoặc các và hoàn toàn có Người bị phình giáp hay bướu giáp nhân đều bị chèn ép ở cổ tùy vào kích thước và vị trí của của bướu giáp. Trong số những người mắc bệnh bướu giáp có khoảng 5-10% trường hợp u ác. bao gồm cả viêm tuyến giáp hoặc bệnh Graves (bệnh bướu độc lan tỏa). Tình - Chọc sinh thiết bướu giáp để xét nghiệm tế bào hoặc mô bệnh học, giúp xác định nguyên nhân của bướu giáp. + Hình thái đại thể bướu giáp: - Bướu giáp lan tỏa: toàn bộ nhu mô tuyến giáp to ra lan tỏa. - Bướu giáp thể nhân: chỉ có một phần tuyến giáp to ra trên - Bệnh Bướu giáp lan toả nhiễm độc: ngoài hội chứng thay đổi hình thái Tuyến giáp (Bướu giáp lan toả),bệnh nhân còn có hội chứng cường chức năng Tuyến giáp và các rối loạn thần kinh nội tiết khác. - Khi bị viêm Bướu giáp và Apxe hoá thì phải điều trị kháng sinh Je Rencontre D Autres Problèmes De Connexion. 1. Các phương pháp điều trị bướu giáp lan tỏa theo y học hiện đại Với bướu giáp lan tỏa lành tính Bướu giáp lan tỏa lành tính giai đoạn sớm có thể không cần phải điều trị mà chỉ cần theo dõi định kì. Đa số các trường hợp bướu giáp đơn thuần thể lan tỏa chỉ cần điều trị bằng thuốc hormon tuyến giáp sẽ cho kết quả rất tốt. Ngoài ra, nếu người bệnh phát hiện bướu sớm và đi khám bệnh ngay sẽ có kết quả tốt hơn vì để lâu quanh nhân sẽ có vùng xơ hóa không đáp ứng thuốc. Cần đặc biệt lưu ý ở nữ giới tuổi dậy thì 12-18 tuổi hoặc phụ nữ có thai, tuyến giáp hơi lớn ra dạng phình giáp lan tỏa chỉ là hiện tượng sinh lý, không có chỉ định mổ. Bướu giáp lan tỏa mới Phương pháp điều trị Sử dụng hormon trị liệu nhằm ức chế tiết TSH. Liều Thyroxin cần thiết để đạt được sự ức chế này là từ 100-200µg/ngày Cách thực hiện Hormon L-T4 sử dụng liều trung bình/ngày 100-150µg, liều tối đa/ngày 200µg Hormon L-T3 sử dụng liều trung bình/ngày 25µg, liều tối đa/ngày 50µg Hormon L-T4 + L-T3 tỷ lệ 41 sử dụng liều trung bình/ngày 100T4 + 20T3, liều tối đa/ngày 180T4 + 45T3 Bột giáp đong khô Liều trung bình ngày USP hoặc Codex, liều tối đa/ngày 2g USP hoặc Codex Thời gian điều trị Cần điều trị ít nhất 6 tháng trước khi kết luận có kết quả hay không Hiệu quả điều trị Khoảng 60% trường hợp bướu giáp nhỏ lại tới mức bình thường Lưu ý chăm sóc sau điều trị Tất cả mọi trường hợp bệnh nhân đều cần uống thuốc đều đặn, đủ thời gian thì mới đạt được kết quả mong muốn Bướu giáp lan tỏa lâu ngày Điều trị tương tự như trên nhưng ít hơn hi vọng khỏi. Bướu giáp chỉ ổn định hơn chứ không thay đổi về khối lượng. Tuy nhiên nếu bướu giáp to nhanh, gây chèn ép và mất thẩm mỹ làm giảm chất lượng cuộc sống thì nên phẫu thuật cắt bớt nhu mô giáp. Sau đó tiếp tục điều trị với hormon giáp. Với bướu giáp lan tỏa nhiễm độc Điều trị nội khoa Sử dụng nhóm thuốc ức chế tổng hợp hormon giáp thionamid Cách thực hiện Với nhóm thiouracil có thể bắt đầu liều cao chia nhiều lần, khi đạt bình giáp có thể dùng liều duy nhất buổi sáng. PTU 100-150mg/6h/ngày. Sau 4-8 tuần giảm 50-200mg chia hai lần/ngày Với nhóm imidazol dùng liều duy nhất buổi sáng bắt đầu 40mg/ngày trong 1-2 tháng sau giảm dần liều 5-20mg. Theo dõi FT4 và TSH Thời gian điều trị Sau khi điều trị bình giáp 3-6 tháng thay vì giảm liều thì thêm vào từ 50-100µg levothyroxin, nghĩa là khi dùng liều 5-10mg methimazol thường phối hợp 100µg L-T4/ngày từ 12-24 tháng. Sau khoảng thời gian này khi tuyến giáp bình thường trở lại thì ngừng kháng giáp và tiếp tục dùng Levothyroxin một thời gian, có tác dụng làm giảm kích thước tuyến giáp Thời gian điều trị thuốc kháng giáp từ 6 tháng đến 2 năm Biến chứng trong quá trình điều trị Khoảng 5% trường hợp có các biểu hiện tương đối đa dạng Nhẹ phát ban, mề đay, sốt, rối loạn tiêu hóa, mất vị giác, vàng da tắc mật, tăng Phosphat kiềm Nặng hội chứng Lyl, rụng tóc, Lupus, thiếu máu, đau đa khớp, đau nhiều rễ thần kinh, mất vị giác, thiếu máu Giảm bạch cầu trung tính, đến khi lượng bạch cầu trung tính nhỏ hơn 1200mm3 thì phải ngừng, bởi vây cần theo dõi sát sao trong suốt quá trình điều trị Mất bạch cầu hạt khoảng khi dùng methimazol và PTU trường hợp, được xác định khi lượng bạch cầu <200mm3. Ngừng dùng thuốc kháng giáp và phải dùng kháng sinh ngay khi có biểu hiện này, nhất là biểu hiện nhiễm trùng, viêm họng. Điều trị bằng filgrastim G – CSF Bởi những biến chứng như vậy mà cần theo dõi sát sao khi sử dụng thuốc kháng giáp kiểm tra công thức bạch cầu định kỳ, kiểm tra FT4 và TSH, kiểm tra chức năng gan Lưu ý một số tiêu chuẩn có thể ngừng thuốc kháng giáp Dùng kháng giáp liều rất nhỏ, sau một thời gian bệnh không tái phát trở lại Thể tích tuyến giáp nhỏ lại thể tích tuyến giáp bình thường dưới 18cm3 Kháng thể kháng thụ thể TSH không tìm thấy trong huyết thanh sau nhiều lần xét nghiệm Test Werner + độ tập trung I131 tuyến giáp bị ức chế khi dùng levothyroxin T3 Các phương pháp điều trị khác Dùng chất ức chế vận chuyển Iod Chất thiocyanat và perchlorat ức chế vận chuyển iod nhưng thường sử dụng bất lợi, nên chỉ áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt. Iod vô cơ Khi phối hợp lugol cần sử dụng thuốc kháng giáp trước đó từ 1- 2 giờ Cần khoảng 6mg Iodur là đủ ức chế tuyến giáp. Không sử dụng iod vô cơ đơn độc mà cần phối hợp với thuốc kháng giáp để đề phòng xảy ra hiện tượng thoát ức chế Chỉ định hiện nay đối với iod vô cơ chủ yếu là Chuẩn bị ngắn ngày trước phẫu thuật cắt giảm tuyến giáp và điều trị cơn bão giáp Trước đây người ta thường sử dụng iod trong nhiều tháng khoảng trên 8 tháng. Hiện nay liệu trình sử dụng iod trung bình 10 -15 ngày Chất iopanoic acid và ipodate sodium ipodate 500 mg/ngày, sử dụng đường uống làm ức chế T4 thành T3 và ức chế phóng thích T4, sau 24h ức chế T3 Dùng Lithium Sử dụng cần vô cùng thận trọng với bệnh nhân có bệnh lí tim mạch và rối loạn chuyển hóa, nhất là mất nước liều dùng 300 – 450mg/8 giờ và duy trì nồng độ 1 mEq/l. Thường chỉ sử dụng khi bệnh nhân bị dị ứng với Thionamide hoặc iod. Glucocorticoide Dexamethasone sử dụng với liều 2 mg/6 giờ có thể làm ức chế phóng thích hormone giáp Thuốc chống đông Khoảng 10 – 25% bệnh nhân Basedow có xuất hiện rung nhĩ, nhất là đối với bệnh nhân lớn tuổi. Warfarin dễ gây xuất huyết sau điều trị phóng xạ. Aspirin có chỉ định nhưng thận trọng nếu sử dụng ở liều cao aspirine làm tăng FT3 và T4 do giảm kết hợp protein Thuốc an thần Khuyến cáo sử dụng nhóm barbiturate tác dụng giảm lượng thyroxine do gia tăng thoái biến Cholestyramine Dùng 4 mg, ngày dùng 4 lần có thể giúp giảm T4 Carnitin Tác dụng ức chế hormone giáp ngoại biên, cải thiện triệu chứng và hiệu quả trên lâm sàng Rituximab Là một kháng thể đơn dòng làm giảm lympho B ngoại biên vì thế giúp làm lui bệnh và giảm nồng độ TRAb Điều trị Iode phóng xạ Điều trị với I131 mục đích làm giảm thể tích bướu có thể áp dụng cho bướu giáp đơn quá lớn ở người lớn tuy nhiên chống chỉ định phẫu thuật hoặc những trường hợp bị tái phát sau khi phẫu thuật. Không áp dụng phương pháp này với người trẻ dưới 35 tuổi, cũng như trường hợp bướu giáp lớn sau xương ức, có thể làm sưng cấp tính tuyến giáp gây đè ép khí quản nặng hơn. I131 tỏ ra hiệu quả và an toàn đối với bướu giáp đơn thể nhiều nốt, tuy nhiên tỷ lệ suy giáp cao 22%-40% trong 5 năm Chỉ định Có thể từ 35 tuổi trở lên Bệnh tái đi tái lại nhiều lần, không thể phẫu thuật Khó khăn trong theo dõi người lớn tuổi Suy tim Dị ứng thuốc kháng giáp Trường hợp suy tim, nhiễm độc giáp nặng, tuyến giáp có thể tích lớn trên 100 gam, nên điều trị đạt được bình giáp trước khi điều trị iod phóng xạ. Chống chỉ định Tuyệt đối trường hợp thai nghén Điều trị phẫu thuật tuyến giáp Thực hiện Chuẩn bị tốt với thuốc kháng giáp để đạt được bình giáp trước khi phẫu thuật để phòng cơn bão giáp Phối hợp iod vô cơ một thời gian ngắn 1-2 tuần nhằm giảm tưới máu nhu mô thuận lợi cho phẫu thuật Chuẩn bị bằng thuốc kháng giáp cho đạt bình giáp Iod 40-80mg/ngày 2 lần trước hai tuần. Sau phẫu thuật cắt giảm tuyến giáp không sử dụng thuốc kháng giáp và iod Prapranolol 40mg mỗi 6h dùng đường uống, liều có thể tăng sao cho tần số tim dưới 60 lần/phút và duy trì thêm 5-7 ngày sau phẫu thuật Để lại mỗi thùy 2-3g nhu mô giáp Chỉ định Bệnh tái phát sau nhiều lần điều trị Tuyến giáp quá lớn Cường giáp ở phụ nữ có thai đáp ứng kém điều trị nội khoa Biến chứng và lưu ý sau điều trịi Cần theo dõi sau mổ 4-6 tuần để phát hiện suy giáp 30-50% hoặc cường giáp trở lại 3-7%. Suy giáp nhẹ tự hồi phục sau 4-6 tuần. Suy cận giáp khoảng 3%, liệt dây thần kinh quặt ngược Điều trị bướu giáp lan tỏa bằng gây thuyên tắc động mạch tuyến giáp Cách thực hiện chất gây thuyên tắc là các hạt cấu tạo từ PVA kích thước 150-300mm. Gây thuyên tắc lần đầu chủ yếu dùng hạt kích thước 150mm, lần tiếp theo dùng hạt 300mm Hiệu quả điều trị giảm kích thước và chức năng tuyến giáp. Cải thiện tính tự miễn của tuyến giáp, điều chỉnh chức năng miễn dịch. 2. Một số phương pháp điều trị bướu giáp lan tỏa theo y học cổ truyền Điều trị bướu giáp lan tỏa lành tính Thành phần 50g rong biển 100g gạo tẻ Thực hiện Gạo tẻ vo sạch cho vào nồi 1 lít nước. Rong biển rửa sạch và thái nhỏ, cho vào nồi nấu cháo. Để lửa to cho tới khi sôi thì giảm lửa, nấu nhừ. Thêm vào chút muối cho vừa ăn. Cách sử dụng Ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và tối Lưu ý Để ngăn ngừa bướu giáp lành tính, cần ăn những thực phẩm giàu iốt như cá biển, rau cải xoong, rau dền, khoai tây… Để giữ được iốt khi chế biến món ăn, chỉ nêm muối vào thức ăn khi vừa tắt bếp Muối iốt không nên phơi nắng, rang nóng hoặc để trên gác bếp sẽ làm giảm tác dụng. Muối iốt đựng trong túi nilon nhỏ hàn kín để nơi khô ráo và không dự trữ quá 6 tháng. Bắp cải chứa một hàm lượng nhỏ goitrin, có tác dụng chống ôxy hóa nhưng lại là tác nhân gây bướu cổ. Vì vậy, người bị rối loạn tuyến giáp hoặc bướu cổ không nên ăn bắp cải, hoặc ăn lượng vừa phải và phải chế biến kỹ Điều trị bướu giáp lan tỏa nhiễm độc Phù tuyến giáp đơn thuần được gọi là khí ảnh bướu khí. Cường tăng tuyến giáp được gọi là nhục ảnh bướu thịt. Bệnh thuộc can khí uất trệ tân dịch không vận hành được, ngưng kết thành đờm, khí trệ lâu ngày dẫn đến huyết ứ, khí đờm ứ lại tập trung ở cổ tạo thành bướu cổ. Phép trị theo Đông y là hóa đờm nhuyễn kiên là chính, hỗ trợ ích khí dưỡng âm hóa ứ. Một số bài thuốc sau đây có thể chữa bướu giáp lan tỏa nhiễm độc. Bài 1. Toàn chân ích khí thang gia giảm 4g nhân sâm 8g mạch môn 8g ngũ vị tử 6g thục địa 4g bạch truật 4g ngưu tất 2g phụ tử chế Chủ trị Bướu cổ sưng to có cảm giác đè ép lưỡi khi nói Thở ngắn Mặt hơi phù Lưỡi hơi đỏ Mạch huyền hoãn Nguyên nhân do âm dương bất hòa nên phép trị phải phù dưỡng âm như trên. Bài 2. Nhị trần thang gia vị 15g bán hạ 12g phục linh 10g trần bì 15g côn bố 15g hải tảo 4g bạch giới tử 5g sinh cam thảo Sắc uống ngày 1 thang. Chủ trị bướu cổ, tim đập hồi hộp, yếu mệt tự ra mồ hôi, chóng đói, gầy, tay run, mắt hơi lồi. Nguyên nhân do đờm kết ở cổ, hỏa bốc lên trên, đờm hỏa quấy rối gây nóng gắt, dễ đói, gầy. Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh Bướu giáp lan tỏa là một dạng của bướu cổ. Bướu giáp lan tỏa có nguy hiểm không là thắc mắc của rất nhiều người. Bởi trước giờ, chúng ta chỉ biết đến những tên gọi phổ biến như bướu cổ, bướu tuyến giáp. Vậy bướu giáp lan tỏa là gì? Bệnh này có nguy hiểm không? Để trả lời cho câu hỏi bướu giáp lan tỏa có nguy hiểm không, trước tiên bài viết sẽ đưa ra khái niệm về bệnh lý này. Bệnh bướu giáp lan tỏa là gì? Bướu giáp lan tỏa còn gọi là bướu cổ hay bướu tuyến giáp. Đây là tình trạng tuyến giáp to đều ở cả hai bên thùy. Đa số bướu giáp lan tỏa là lành tình, không nguy hại đến tính mạng người bệnh. Bệnh này gồm hai loại Bướu giáp lan tỏa không độc và bướu giáp lan tỏa nhiễm độc. - Bướu giáp lan tỏa không độc Lành tính, còn gọi là bướu cổ đơn thuần - Bướu giáp lan tỏa nhiễm độc Còn gọi là bệnh Basedow hay cường tuyến giáp kèm với bướu ở cổ. Biến chứng của bệnh bướu giáp lan tỏa Tùy theo loại bướu tuyến giáp mà mức độ nguy hiểm sẽ khác nhau. Đối với bướu cổ đơn thuần, thường không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe người bệnh nên không đáng lo ngại. Trong khi đó, bướu giáp lan tỏa nhiễm độc lại có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Một số biến chứng của bướu giáp lan tỏa bao gồm - Cơn cường giáp cấp Với biểu hiện sốt cao, vã mồ hôi, nhịp tim nhanh, nôn nhiều, tiêu chảy, vàng da, mê sảng và cuối cùng có thể hôn mê. Nếu không được cấp cứu kịp thời, bệnh nhân có thể tử vong. - Lồi mắt Có thể xảy ra ở bệnh nhân bị bệnh bướu cổ Basedow với các triệu chứng như nhức mắt, cảm giác như có cát trong mắt, chảy nước mắt, sợ ánh sáng, tăng áp lực nhãn cầu, phù mi mắt, đỏ. Giác mạc của người bệnh thường khô, dễ nhiễm trùng và cuối cùng có thể gây mù lòa. - Biến chứng tim mạch Ở người mắc bệnh bướu giáp lan tỏa độc có thể gặp các biến chứng tim mạch như nhịp nhanh, rung nhĩ, suy tim hay suy mạch vành. Trong đó rung nhĩ hay gặp trong nhiễm độc giáp - Suy giáp Ít gặp hơn, thường xuất hiện ở người lớn tuổi đã từng mắc bướu giáp trước đó. Biểu hiện của suy giáp là rụng tóc, da khô, mệt mỏi, kinh nguyệt không đều, suy giảm ham muốn tình dục, tăng cân không kiểm soát được, táo bón,… - Chèn ép Khi bướu cổ rất to sẽ gây chèn ép các cơ quan xung quanh như khí quản, thanh quản, thực quản, dẫn đến triệu chứng khó nuốt, khó thở, khàn tiếng. - Chảy máu Nếu bướu cổ đột nhiên to ở một vùng sẽ gây đau, sờ vào thấy căng và thậm chí gây chảy máu. - Nhiễm khuẩn Bướu cứng, đỏ, nóng, toàn thân có thể sốt - Ung thư hóa Ít gặp nhưng có thể xảy ra khi nhân tuyến giáp trở thành ác tính. Khi đó, bướu cổ sẽ phát triển rất nhanh gây khó thở, khó nuốt, có thể kèm hạch nổi lên ở cổ. >>>Xem thêm Bướu giáp lan tỏa là gì? Điều trị bướu giáp lan tỏa như thế nào? Người bệnh bướu giáp cần đi khám chuyên khoa nội tiết để được chẩn đoán và điều trị. Đối với bướu giáp lan tỏa không độc bướu cổ đơn thuần, các triệu chứng ít và không gây hại nhiều đến sức khỏe nên thường không cần điều trị. Chỉ khi bướu giáp quá to chèn ép các cơ quan, dẫn tới khó nuốt, khó thở hoặc ảnh hưởng đến thẩm mỹ thì mới cần can thiệp. Biện pháp điều trị lúc này đó là sử dụng thuốc hormone tuyến giáp và phẫu thuật. Levothyroxine có thể sử dụng để ức chế tuyến yên tiết TSH, từ đó sẽ thu nhỏ khối bướu giáp. Đối với bướu giáp lan tỏa nhiễm độc, phương pháp điều trị sẽ là ức chế tuyến giáp sản xuất hormone bằng thuốc kháng giáp, iod phóng xạ hoặc phẫu thuật. Ngoài ra thuốc chẹn beta được dùng để giảm triệu chứng của cường giáp như nhịp tim nhanh, vã mồ hôi. Có hai loại thuốc kháng giáp hay được sử dụng đó là methimazol và propylthiouracil. Một số tác dụng phụ của nhóm thuốc này đó là phát ban, buồn nôn, đau cơ, nhức đầu, viêm thận, suy gan,… Iod phóng xạ cũng hay được dùng để điều trị bệnh Basedow. Những trường hợp bị cường giáp chưa qua bất kỳ phương pháp điều trị nào hoặc bị tái phát sau phẫu thuật hay biến chứng sau điều trị nội khoa đều sử dụng được iod phóng xạ. Ưu điểm của phương pháp này so với phẫu thuật đó là không để lại sẹo. Tuy nhiên, biến chứng của nó là gây suy giáp, viêm tuyến giáp do bức xạ. Phẫu thuật chỉ được chỉ định trong trường hợp bướu quá to, gây nhiều phiền toái cho người bệnh hay có dấu hiệu ung thư. Các kiểu phẫu thuật đó là cắt bỏ một phần, gần như toàn bộ hoặc toàn bộ tuyến giáp. Các biến chứng của mổ tuyến giáp có thể là khản tiếng, khó thở, suy tuyến cận giáp với triệu chứng hạ canxi máu, chảy máu. >>>Xem thêm Có mấy loại phẫu thuật điều trị bướu giáp lan tỏa? Không lo bướu giáp lan tỏa vì đã có sản phẩm này! Như vậy, với thắc mắc bướu giáp lan tỏa có nguy hiểm không, các bạn đã có được câu trả lời khá rõ ràng. Khi không được điều trị kịp thời, nhất là bướu giáp lan tỏa độc, có thể gây ra các biến chứng khó lường. Các phương pháp điều trị tây y ít nhiều đều có thể gây ra một số tác dụng không mong muốn. Chính vì vậy, hiện nay, nhiều người có xu hướng lựa chọn sản phẩm thảo dược để cải thiện bướu giáp lan tỏa. Một trong những dòng sản phẩm chuyên biệt cho các rối loạn về tuyến giáp, trong đó có bướu giáp lan tỏa đó là thực phẩm bảo vệ sức khỏe Ích Giáp Vương. Sản phẩm này có thành phần chính là hải tảo, một loại rong biển giúp bổ sung iod thiếu hụt cho người mắc bướu giáp lan tỏa không độc bướu cổ đơn thuần. Hơn nữa, hải tảo còn có tác dụng làm mềm nhân giáp vì thế có thể thu nhỏ khối bướu cổ. Ích Giáp Vương còn có chứa các thành phần khác như khổ sâm, ba chạc, bán biên liên, KI, MgCl2 có tác dụng chống viêm, bảo vệ tuyến giáp khỏi các tác nhân có hại, giảm nhẹ các triệu chứng của người mắc bướu giáp lan tỏa. Với các thành phần từ thiên nhiên, không có tác dụng phụ nên sản phẩm này rất an toàn cho người sử dụng. Cảm nhận khách hàng Điển hình là trường hợp của bà Dương Thị Hiệu SĐT 0915522412 đã kiểm soát hiệu quả bướu giáp bằng sản phẩm thảo dược Ích Giáp Vương. Hãy cùng xem chi tiết chia sẻ của bà Hiệu TẠI ĐÂY. Mời độc giả xem thêm kinh nghiệm kiểm soát bướu tuyến giáp của những người khác Tại Đây! Tư vấn của chuyên gia Lắng nghe Trần Đình Ngạn phân tích về vấn đề sử dụng Ích Giáp Vương trong hỗ trợ điều trị bướu tuyến giáp có cần phẫu thuật nữa không trong video dưới đây nhé Xem thêm chuyên gia tư vấn vấn đề uống thuốc điều trị bướu tuyến giáp lâu dài có tác dụng phụ gì không? Qua thông tin mà bài viết đã chia sẻ bên trên, chắc hẳn các bạn đã giải đáp được cho mình về thắc mắc bệnh bướu giáp lan tỏa có nguy hiểm không. Đồng thời, bài viết cũng đưa ra một giải pháp giúp giảm kích thước khối bướu giáp an toàn từ sản phẩm thảo dược Ích Giáp Vương. Để được tư vấn về bệnh bướu giáp lan tỏa và sản phẩm Ích Giáp Vương, vui lòng liên hệ tổng đài ZALO/VIBER. Có nhiều mối lo ngại rằng bướu giáp là biểu hiện bệnh ác tính như ung thư. Tuy nhiên không phải vậy. Trên thực tế có nhiều bướu giáp là biểu hiện lành tính, gọi là bướu giáp lan tỏa. Vậy bướu giáp lan tỏa lành tính là gì? Hãy cùng Thạc sĩ, Bác sĩ Vũ Thành Đô tìm hiểu ngay trong bài viết sau đây. Nội dung bài viết Bướu giáp là gì?Thế nào là bướu giáp lan tỏa lành tính?Những triệu chứng của bệnh nhânNguyên nhân gây ra bướu giáp lan tỏa lành tínhCác phương tiện chẩn đoánĐiều trị bướu giáp lan tỏa lành tính Bướu giáp là gì? Tuyến giáp là cơ quan nằm ở giữa cổ, đây là hệ nội tiết sản xuất nhiều hormonee quan trọng trong hoạt động cơ thể. Hai hormonee chính sản sinh trong tuyến giáp là thyroxine T4 và triiodothyronine T3. Ngoài ra, cơ quan này còn tiết ra những hormone khác. Ví dụ như sự sản xuất calcitonin – một chất điều hòa lượng canxi trong máu. Bướu giáp hay còn gọi là bướu cổ là sự phì đại vùng tuyến giáp ở cổ. Bướu cổ có thể không là hiện tượng tuyến giáp không hoạt động. Trong nhiều tình huống, bướu giáp xuất hiện nhưng chức năng tuyến giáp hoạt động bình thường. Thế nào là bướu giáp lan tỏa lành tính? Nhiều người còn thường gọi bướu giáp lan tỏa lành tính là bướu giáp lan tỏa không độc. Khi hormone tuyến giáp không sản xuất đủ, tuyến yên trong não bộ nhận tín hiệu. Sau đó, tuyến yên thúc đẩy sản sinh ra các hormone kích thích tuyến giáp – TSH. Hiện tượng quá nhiều TSH sẽ làm phình tuyến giáp. Đôi khi bướu giáp có thể có nhiều nốt đơn lẻ, to nhỏ không đều. Những nốt này nằm ngay tại tuyến giáp tại cổ. Hầu hết các nhân giáp của bướu giáp lan tỏa lành tính đều không gây bệnh lý. Theo thời gian, một số khác có thể tiến triển thành bệnh như cường giáp, suy giáp ung thư,… Những triệu chứng của bệnh nhân Bướu giáp lan tỏa lành tính thường không gây triệu chứng rõ ràng. Khi bướu này dần to hơn, nó sẽ gây ảnh hưởng các vùng lân cận. Khi đó, các dấu hiệu sẽ rõ ràng hơn, như Khàn tiếng. Nuốt khó. Khó thở khi nằm. Cổ họng có cảm giác thắt nghẹn. Ho khan. Khối cứng sờ được tại tuyến giáp. Khi sự phì đại này kèm với rối loạn chức năng, sẽ kèm theo rối loạn chức năng đó. Nuốt khó là một trong những triệu chứng nguy hiểm của bệnh Nguyên nhân gây ra bướu giáp lan tỏa lành tính Bướu giáp lan tỏa lành tính xuất hiện thường do nhiều nguyên nhân. Trong đó có thể kể đến như Thiếu iod đây là nguyên nhân khá phổ biến ở vùng miền núi tại Việt Nam. Một số thuốc. Suy nhược, suy dinh dưỡng. Di truyền. Các yếu tố di truyền tiết kháng thể kích thích tăng trưởng. Đồng thời nó cũng ảnh hưởng sự tiết xuất hormonee. Bệnh lý này có thể gặp ở một vùng địa lý cụ thể. Trong khu vực đó, có thể gặp nhiều người cùng bị bướu giáp như một thôn, một làng, một địa phương,… Hầu hết những khu vực này có liên quan tới tình trạng thiếu iod trong khẩu phần ăn, nước uống của người dân. Tuy nhiên, bệnh có thể gặp lẻ tẻ mỗi người, chủ yếu do môi trường sống và yếu tố di truyền. Các phương tiện chẩn đoán Để chẩn đoán bướu giáp lan tỏa lành tính, bác sĩ sẽ khám và sử dụng xét nghiệm cần thiết. Sự kết hợp này sẽ thăm dò hình thái và chức năng tuyến giáp và vùng lân cận. Xét nghiệm tuyến giáp Xét nghiệm tuyến giáp giúp đo nồng độ hormonee tuyến giáp. Sự định lượng này xác định những rối loạn chức năng nếu có tại tuyến giáp. Những hormonee cần thường định lượng là hormonee giáp T4, T3, hormonee kiểm soát tuyến giáp TSH và các tự kháng thể tuyến giáp. Khi TSH tăng và T4, T3 giảm sẽ gây triệu chứng suy giáp. Ngược lại, TSH giảm và T3, T4 tăng sẽ gây cường giáp. Siêu âm tuyến giáp Siêu âm vùng cổ sẽ cho cái nhìn trực quan về kích thước tại tuyến. Đồng thời, nó giúp phát hiện những nốt nếu có. Siêu âm định kỳ là phương pháp rất hiệu quả theo dõi tuyến giáp lâu dài. Đây là xét nghiệm không xâm lấn, an toàn cho bệnh nhân. Siêu âm tuyến giáp rất quan trọng để chẩn đoán Sinh thiết tuyến giáp Bác sỹ thực hiện sinh thiết nếu nghi ngờ sự tăng sinh này có thể là nguy cơ bệnh ác tính. Phương pháp này sẽ cần lấy một mẫu mô nhỏ tại tuyến giáp. Tuy nhiên, sinh thiết là một thủ thuật xâm lấn và gây đau cho bệnh nhân, do đó chỉ định sinh thiết chỉ áp dụng cho những trường hợp đặc biệt. Xạ hình tuyến giáp Phương pháp này đưa chất phóng xạ vào trong cơ thể người bệnh. Từ đó, chất xạ sẽ theo dòng máu đi đến tuyến giáp và loại bỏ bớt mô giáp thừa. Hơn nữa, xạ hình giúp phân biệt các bệnh lý bướu giáp lan tỏa lành tính với các bướu giáp nhân. Khi có nhân giáp, chất xạ sẽ cho hình ảnh nhân nóng hay lạnh tại một vị trí nào đó trong mô giáp. Ngược lại, bướu giáp lan tỏa lành tính không có hình ảnh này. Điều trị bướu giáp lan tỏa lành tính Thông thường, rối loạn này không cần điều trị. Quyết định điều trị sẽ tùy theo kích thước và tiến triển của bướu. Khi bướu tiến triển và có triệu chứng rõ ràng, bác sĩ sẽ dùng những cách điều trị sau 1. Thuốc Khi bệnh tiến triển thành suy giáp hay cường giáp, bạn sẽ cần dùng thuốc. Những thuốc này sẽ giúp duy trì tuyến giáp về mức ổn định. Đồng thời, nó cũng sẽ giúp thu nhỏ kích thước bướu giáp lan tỏa. Ngoài ra, còn có một tình trạng khác cũng cần dùng thuốc là viêm tuyến giáp. Người bệnh cũng sẽ cần dùng thuốc như corticosteroid để làm giảm viêm. 2. Phẫu thuật Đây là liệu pháp nhằm cắt bỏ tuyến giáp hư tổn. Nó có thể là một phần hay toàn bộ tuyến giáp. Tuy nhiên, phương pháp này không được khuyến khích nếu kích thước giáp nhỏ và lành tính. 3. Iod phóng xạ Đây cũng là phương pháp tiêu diệt đi những vùng tuyến giáp hoạt động quá mức nhưng nó cũng sẽ phá hủy những mô lành. Vì thế, phương pháp này cần được điều trị thận trọng. Bướu giáp lan tỏa lành tính là sự rối loạn không phải là bệnh lý. Tuy nhiên những triệu chứng tiến triển sẽ gây ảnh hưởng chất lượng cuộc sống. Bạn nên đi khám khi thấy cơ thể có dấu hiệu bất thường để được các bác sĩ tư vấn hướng giải quyết hợp lý. Cường giáp là tình trạng tuyến giáp sản xuất dư thừa hormone, dẫn đến các rối loạn về chuyển hóa trong cơ thể. Biến chứng cường giáp hay gặp và cũng khá nguy hiểm đó là nhiễm độc giáp. Vậy làm thế nào nhận biết nhiễm độc giáp để xử lý kịp thời? Câu trả lời sẽ có trong bài viết dưới đây! Tuyến giáp là cơ quan nội tiết quan trọng nằm ở phía trước cổ. Dù có kích thước không lớn, nhưng lại đóng một vai trò quan trọng trong cơ thể. Khi cơ quan này bị nhiễm độc thì sẽ làm cho chức năng của cơ quan này bị ảnh hưởng đáng kể. Thuật ngữ “nhiễm độc giáp” chỉ một loạt các rối loạn trên lâm sàng phối hợp với sự tăng nồng độ T3 và T4 tự do trong máu. Nhiễm độc tuyến giáp là tình trạng tuyến giáp sản sinh ra quá nhiều hormone tuyến giáp do bất kỳ nguyên nhân nào, trong đó có cả chứng cường giáp. Cường giáp chỉ là một trong những bệnh lý về nhiễm độc tuyến giáp, nhưng đôi khi lại bị nhầm lẫn giữa hai khái niệm này. Triệu chứng nhiễm độc cấp Dấu hiệu của nhiễm độc giáp - một biến chứng của cường giáp thay đổi tùy theo các cá thể khác nhau. Người bệnh có thể có dấu hiệu - Thần kinh dễ bị kích thích, bồn chồn, sợ nóng, vã mồ hôi, mệt mỏi, yếu, chuột rút, sôi bụng, gầy sút cân. - Có thể hồi hộp, đánh trống ngực hoặc cơn đau thắt ngực. - Ở phụ nữ thường kinh nguyệt không đều. Vã mồ hôi, bồn chồn, mệt mỏi là dấu hiệu nhận biết nhiễm độc giáp Liệt cũng có thể xảy ra trong nhiễm độc giáp do hạ kali máu. Liệt thường xảy ra đột ngột với vài triệu chứng nhiễm độc giáp sau khi sử dụng dextrose đường tĩnh mạch hoặc sau uống carbohydrate, sau hoạt động thể lực quá sức. Liệt kéo dài từ 7 - 72 giờ. Dấu hiệu nhiễm độc giáp khác có thể bao gồm Nhìn chằm chằm, dấu hiệu von Graefe sự mất phối hợp hoạt động sinh lý giữa nhãn cầu và mi mắt, nhịp tim nhanh hoặc rung nhĩ, run đầu chi, da nóng ẩm, tăng phản xạ gân xương, tóc mềm, móng dễ gãy và suy tim hiếm gặp hơn. Nhiễm độc giáp mạn tính có thể gây loãng xương. Có thể có ngón tay hình chùy và sưng ngón tay dùi trống. Bệnh cường giáp Graves thường có các dấu hiệu của bướu giáp có tiếng thổi. Bệnh lý mắt do cường giáp biểu hiện trên lâm sàng với tỷ lệ 20 - 40% với các triệu chứng thường gặp là phù kết mạc, viêm kết mạc và lồi mắt nhẹ. Thâm nhiễm lympho bào nặng hơn tại các cơ mắt xuất hiện với tỷ lệ 5 - 10% và có thể gây ra lồi mắt, đôi khi gây nhìn đôi do các cơ ngoài mắt co kéo. Thần kinh thị giác có thể bị chèn ép trong các trường hợp nặng. Khô giác mạc có thể xuất hiện do nhắm mắt không kín. Mức độ nặng của bệnh lý mắt không liên quan chặt chẽ với mức độ nặng của nhiễm độc giáp. Ví dụ như một số bệnh nhân có chức năng tuyến giáp bình thường nhưng trên lâm sàng lại có bệnh lý mắt nặng. Phù niêm mạc chiếm khoảng 3% các bệnh nhân bị bệnh cường giáp Graves, thường ở vùng trước xương chày, trông giống vỏ quả cam. Nhiễm độc giáp có nguy hiểm không? Bệnh nhiễm độc tuyến giáp là một bệnh lý nguy hiểm, sẽ gây ra những biến chứng nghiêm trọng nếu không được điều trị phù hợp. Trong đó, biến chứng gặp phải nhiều nhất là biến chứng tim gồm rung nhĩ kết hợp với phản ứng của thất trái khó kiểm soát. Bên cạnh đó, nhiễm độc tuyến giáp còn gây ra các biến chứng như Tăng kali máu, loãng xương và nhiễm calci thận. Ở nam giới có thể sẽ bị giảm tình dục, liệt dương, giảm số lượng tinh trùng và vú to. Giải pháp ngăn ngừa nhiễm độc giáp từ sản phẩm thảo dược Như vậy, bên trên là một số dấu hiệu nhận biết nhiễm độc giáp, một biến chứng cường giáp khá nguy hiểm. Việc phát hiện kịp thời cơn nhiễm độc giáp sẽ góp phần xử lý sớm tình trạng này, đảm bảo an toàn cho người bị cường giáp. Cường giáp là một bệnh lý mạn tính, có thể gây ra một số biến chứng nếu không được kiểm soát tốt. Hiện nay, các chuyên gia y tế khuyên người bị cường giáp nên sử dụng kết hợp thêm sản phẩm thảo dược có chứa hải tảo – một loại rong biển đã được sử dụng làm thuốc cải thiện các vấn đề về tuyến giáp từ xa xưa. Điển hình cho dòng sản phẩm này không thể không kể đến thực phẩm bảo vệ sức khỏe Ích Giáp Vương. Đây là dòng sản phẩm từ thiên nhiên, chứa thành phần chính hải tảo, một loại rong biển có công dụng điều hòa miễn dịch, tác động vào một trong những nguyên nhân phổ biến gây ra bệnh lý cường giáp. Ngoài ra, sản phẩm còn chứa khổ sâm, ba chạc, bán biên liên, neem, vừa giúp tác động đến nguyên nhân gây bệnh, vừa cải thiện các triệu chứng của cường giáp như nhịp tim nhanh, lo lắng, thân nhiệt tăng, tăng huyết áp,… và giúp hạn chế nguy cơ gặp biến chứng như nhiễm độc giáp. Sản phẩm có nguồn gốc từ các loại thảo dược nên an toàn, không gây hại khi sử dụng lâu dài. Ích Giáp Vương giúp hỗ trợ cải thiện nhiễm độc giáp an toàn, hiệu quả Kinh nghiệm cải thiện cường giáp thành công của khách hàng đã sử dụng Ích Giáp Vương Rất nhiều người bị suy giáp, cường giáp, bướu cổ đã sử dụng Ích Giáp Vương thu được hiệu quả tốt, điển hình là trường hợp của chị Phạm Thị Thanh Huyền, 42 tuổi trú tại TP Thái Nguyên, SĐT 0975 226 585, đã kiểm soát hiệu quả suy giáp bằng thảo dược Ích Giáp Vương. Chị Huyền đã gặp những triệu chứng như thế nào, quá trình điều trị của chị ra sao, hãy cùng xem chi tiết chia sẻ của chị Huyền về quá trình điều trị suy giáp TẠI ĐÂY. Mời độc giả xem thêm kinh nghiệm kiểm soát rối loạn tuyến giáp của những người khác Tại Đây! Ích Giáp Vương nhận được nhiều đánh giá tích cực về tác dụng hỗ trợ cải thiện cường giáp từ phía các chuyên gia Trần Đình Ngạn phân tích sự kết hợp giữa các thành phần có trong sản phẩm Ích Giáp Vương trong việc trị bệnh cường giáp qua đoạn băng sau “…Các vị thuốc như ba chạc, neem giúp điều hòa trung ương thần kinh, giúp giảm cảm giác bồn chồn ở người bị Basedow; kết hợp với các vị thuốc khác giúp cải thiện bệnh lý này”. >>>Xem thêm tư vấn của chuyên gia về cách điều trị bệnh giáp hiệu quả hiện nay Phản hồi của người dùng Qua số hotline Zalo của chuyên gia 0902207582,nhiều người cũng vui mừng chia sẻ tín hiệu lạc quan sau khi sử dụng Ích Giáp Vương Chương trình tiết kiệm chi phí cho người dùng Nhằm tri ân quý khách hàng và khẳng định hiệu quả sản phẩm, Ích Giáp Vương đang có chương trình tiết kiệm chi phí cho người dùng, cụ thể - Mua 6 tặng 1 Khi mua 6 hộp Ích Giáp Vương 30 viên quý khách sẽ được tặng 1 hộp Ích Giáp Vương 30 viên, tương đương tiết kiệm 16% chi phí. - Mua 1 tặng 1 Khi mua 1 hộp Ích Giáp Vương 2 lọ, 180 viên , quý khách sẽ nhận được 1 hộp Ích Giáp Vương 30 viên tương đương tiết kiệm 19,5% chi phí. So với chương trình mua 6 tặng 1, chương trình mua 1 tặng 1 hộp 30 viên sẽ có nhiều ưu đãi đặc biệt hơn. ÍCH GIÁP VƯƠNG cam kết hoàn tiền 100% nếu khách hàng sử dụng không hiệu quả Với nguồn gốc từ rất nhiều thảo dược quý, Ích Giáp Vương tự hào đã góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của hàng triệu người bị bướu cổ đơn thuần, suy giáp, cường giáp, viêm tuyến giáp và ung thư tuyến giáp trên khắp đất nước Việt Nam. Để khẳng định hiệu quả cũng như chất lượng của sản phẩm, nhãn hàng Ích Giáp Vương sẽ hoàn tiền 100% nếu khách hàng sử dụng không hiệu quả. Hy vọng bài viết trên đã cho độc giả biết được về các dấu hiệu nhận biết nhiễm độc giáp, một biến chứng cường giáp khá nguy hiểm và thường gặp. Để kiểm soát cường giáp hiệu quả, ngăn ngừa biến chứng, bạn có thể sử dụng sản phẩm Ích Giáp Vương kết hợp với thực hiện một lối sống lành mạnh, khoa học. Để được tư vấn về cường giáp cũng như các bệnh lý tuyến giáp khác và sản phẩm Ích Giáp Vương, vui lòng liên hệ tổng đài 0902207582 ZALO/VIBER. Đại cương Khái niệm Cường chức năng tuyến giáp hay cường giáp là thuật ngữ để chỉ tình trạng tuyến giáp tăng tổng hợp giải phóng hormon. Khi nồng độ hormon tuyến giáp lưu hành trong máu tăng cao sẽ tác động gây rối loạn chức năng của các cơ quan và tổ chức trong cơ thể dẫn đến nhiễm độc hormon tuyến giáp. Nhiễm độc giáp là thuật ngữ để chỉ tình trạng dư thừa hormone tuyến giáp trong cơ thể tăng nồng độ hormone tuyến giáp, còn cường chức năng tuyến giáp là thuật ngữ để chỉ tình trạng dư thừa hoạt động chức năng của tuyến giáp tăng tổng hợp hormone tuyến giáp. Trạng thái lâm sàng của cường giáp phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, cơ chế bệnh sinh và mức độ bệnh. Tuy nhiên, bệnh cảnh lâm sàng chung là tình trạng nhiễm độc giáp. Trong nhiều trường hợp khái niệm cường giáp và nhiễm độc giáp có thể sử dụng thay thế cho nhau. Trong tài liệu này sử dụng khái niệm nhiễm độc giáp. Nguyên nhân của nhiễm độc giáp Các nguyên nhân gây nhiễm độc giáp được trình bày chi tiết trong Bảng 1, trong đó có các nguyên nhân Các nguyên nhân hay gặp Basedow là nguyên nhân hay gặp nhất đặc biệt ở bệnh nhân trẻ tuổi Bướu giáp đa nhân nhiễm độc là nguyên nhân hay gặp ở người cao tuổi. Các nguyên nhân ít gặp u tuyến tuyến giáp nhiễm độc, viêm tuyến giáp bán cấp, viêm tuyến giáp không đau, giả cường giáp và nhiễm độc giáp do thuốc. Các nguyên nhân còn lại là rất hiếm gặp. Lâm sàng Các biểu hiện lâm sàng của nhiễm độc giáp phần lớn không phụ thuộc vào nguyên nhân của nó. Tuy nhiên, căn bệnh gây nhiễm độc giáp có thể có những biểu hiện kèm theo. Cụ thể, bệnh Basedow là nguyên nhân phổ biến nhất của nhiễm độc giáp, gây ra những vấn đề riêng biệt mà không liên quan đến nồng độ hormone tuyến giáp cao. Những vấn đề này bao gồm bệnh mắt Basedow và bệnh da thâm nhiễm phù niêm khu trú hoặc trước xương chày. Hầu hết các bệnh nhân bị nhiễm độc giáp do Basedow đều có bướu giáp lan tỏa, nhưng điều này cũng đúng với các nguyên nhân ít phổ biến hơn của cường giáp như viêm tuyến giáp không đau và các u tuyến tuyến yên tiết TSH. Bảng 1. Các nguyên nhân của nhiễm độc giáp Cường chức năng tuyến giáp tiên phát Basedow Bướu giáp đa nhân nhiễm độc Toxic multinodular goiter U tuyến tuyến giáp nhiễm độc Toxic adenoma Di căn ung thư tuyến giáp có hoạt động chức năng Functioning thyroid carcinoma metastases Đột biến thụ cảm thể TSH hoạt hóa Activating mutation of the TSH receptor Đột biến Gsα hoạt hóa Activating mutation of Gsα – McCune-Albright syndrome U tế bào mầm ác tính buồng trứng Struma ovarii Do thuốc thừa i-od hiện tượng Jod-Basedow – Jod-Basedow phenomenon Nhiễm độc giáp không cường chức năng tuyến giáp Viêm tuyến giáp bán cấp Viêm tuyến giáp thầm lặng Các nguyên nhân khác gây phá hủy tuyến giáp amiodarone, phóng xạ, nhồi máu u tuyến tuyến giáp Uống quá nhiều hormone tuyến giáp giả cường giáp hoặc mô giáp Ingestion of excess thyroid hormone thyrotoxicosis factitia or thyroid tissue Cường chức năng tuyến giáp thứ phát U tuyến tuyến yên tiết TSH Hội chứng kháng hormone tuyến giáp U tiết hCG human Chorionic Gonadotropin Nhiễm độc giáp thai kỳ Nguồn theo J. Larry Jameson al. 2015. Triệu chứng cơ năng Bệnh nhân nhiễm độc giáp có thể có các biểu hiện bao gồm rối loạn chuyển hóa và điều hòa thân nhiệt, rối loạn chức năng tim mạch và rối loạn chức năng thần kinh- tâm thần – cơ. Nhiễm độc giáp điển hình Phần lớn bệnh nhân cường chức năng tuyến giáp điển hình có đầy đủ các triệu chứng cơ năng. Các triệu chứng điển hình bao gồm mệt mỏi, rối loạn cảm xúc, dễ bị kích thích, yếu cơ, run, đánh trống ngực, sợ nóng cảm giác nóng bức thường xuyên, ra nhiều mồ hôi, sút cân mặc dù ăn bình thường thậm chí ăn nhiều. Ăn nhiều nhưng sút cân là dấu hiệu đặc trưng, một vài bệnh nhân tăng cân, đặc biệt ở các bệnh nhân trẻ tuổi, do kích thích ăn nhiều quá mức. Một số triệu chứng khác có thể gặp như ỉa tăng lần hyperdefecation không phải ỉa chảy, đái nhiều, thiểu kinh hoặc vô kinh ở nữ giới và tiết sữa và rối loạn cương ở nam giới. Nhiễm độc giáp không điển hình Bệnh nhân nhiễm độc giáp không điển hình hoặc ở người cao tuổi có các triệu chứng liên quan tới một cơ quan hoặc một vài cơ quan. Các triệu chứng cơ năng hoặc thực thể đơn độc có giá trị gợi ý bao gồm sút cân không rõ nguyên nhân, rung nhĩ mới khởi phát, bệnh lý cơ, rối loạn kinh nguyệt, tiết sữa ở nam giới. Các tình trạng khác có thể gợi ý khả năng nhiễm độc giáp tuyến giáp bao gồm loãng xương, tăng can xi máu, suy tim, ngoại tâm thu nhĩ, khó thở, và rối loạn dung nạp glucose, hoặc rối loạn đường huyết lúc đói ở bệnh nhân trước đó chưa được chẩn đoán đái tháo đường. Người cao tuổi Ở người cao tuổi, các triệu chứng hay gặp bao gồm các triệu chứng về tim mạch như trống ngực, khó thở khi gắng sức và phù. Bệnh nhân có thể có biểu hiện sút cân, ít thèm ăn. Một ví dụ điển hình nhất về hiện tượng này được gọi là “nhiễm độc giáp hờ hững – apathetic thyrotoxicosis” trong đó người cao tuổi không có triệu chứng gì ngoại trừ yếu cơ và suy nhược. Có thể gặp nhiễm độc giáp dưới lâm sàng, được định nghĩa là tình trạng bệnh lý có nồng độ FT4 và T3 huyết thanh bình thường kèm theo giảm nồng độ TSH, liên quan với tăng ba lần nguy cơ rung nhĩ ở người cao tuổi. Triệu chứng thực thể Tăng cảm nói nhanh, nói nhiều, tăng động, dễ bị kích thích. Biểu hiện ở mắt mắt nhìn chằm chằm có rút cơ mi – dấu hiệu Dalrymple dương tính, mi mắt di chuyển chậm so với nhãn cầu dấu hiệu Von Graefe dương tính. Da nóng, ẩm; tóc mỏng, mềm, mượt. Nhịp nhanh thường xuyên hoặc loạn nhịp hoàn toàn khi bệnh nhân bị rung nhĩ. Tăng huyết áp tâm thu, tim đập mạnh ở vùng trước tim. Các biểu hiện thường gặp khác bao gồm run, yếu cơ gốc chi, tăng phản xạ gân xương. Lồi mắt, phù kết mạc và quanh nhãn cầu, phù niêm trước xương chầy chỉ gặp ở bệnh nhân Basedow Graves. Đặc điểm tuyến giáp Tính chất và kích thước của bướu giáp phụ thuộc vào nguyên nhân gây cường chức năng tuyến giáp. Bướu giáp gặp từ kích thước nhỏ đến rất to ở bệnh Basedow hoặc bướu giáp đa nhân nhiễm độc toxic multinodular goiter. Không sờ thấy tuyến giáp thường gặp ở bệnh nhân cao tuổi bị Basedow. Bệnh nhân bị viêm tuyến giáp không đau viêm tuyến giáp thâm nhiễm lympho có thể không có bướu giáp, hoặc bướu giáp nhỏ. Không có bướu giáp gợi ý giả cường chức năng tuyến giáp cường chức năng tuyến giáp ngoại sinh hoặc u tế bào mầm ác tính buồng trứng struma ovarii. Bướu giáp nhân đơn độc sờ thấy gợi ý u tuyến tuyến giáp nhiễm độc autonomously functioning thyroid adenoma – toxic adenoma. Tuyến giáp đau gợi ý viêm tuyến giáp bán cấp. Cận lâm sàng Xét nghiệm chức năng tuyến giáp Tất cả bệnh nhân bị nhiễm độc giáp tiên phát đều có TSH thấp. Chỉ nồng độ TSH huyết thanh không thể xác định mức độ nhiễm độc giáp, do vậy định lượng nồng độ FT4 và T3 để cung cấp thêm thông tin. Nhiều bệnh nhân cường giáp điển hình có nồng độ FT4 và T3 huyết thanh cao. Tuy nhiên, một vài bệnh nhân chỉ có nồng độ T3 hoặc T4 huyết thanh tăng. Nhiễm độc giáp dưới lâm sàng TSH thấp dưới ngưỡng bình thường nhưng thường > 0,05 mU/L và nồng độ FT4, T3 và FT3 bình thường. Các xét nghiệm khác Bệnh nhân cường chức năng tuyến có thể thay đổi một số xét nghiệm không đặc hiệu khác, ví dụ Nồng độ cholesterol toàn phần, LDL-C, HDL-C có xu hướng thấp và tăng lên sau khi điều trị. Ngoài ra, số lượng hồng cầu có thể tăng, nhưng thể tích huyết tương tăng hơn, nên dẫn đến thiếu máu đẳng sắc thể tích hồng cầu bình thường. Nồng độ phosphatase kiềm alkaline phosphatase và osteocalcin huyết thanh có thể cao và cho thấy thấy tăng tốc độ chu chuyển xương. Chẩn đoán Chẩn đoán xác định Nhiễm độc giáp tiên phát Nghi ngờ nhiễm độc giáp khi bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng nhiễm độc giáp phù hợp với nhau có ít nhất hai trong ba nhóm triệu chứng lâm sàng do nhiễm độc giáp. Chẩn đoán xác định nhiễm độc giáp dựa vào các xét nghiệm hormone, bao gồm TSH, FT4, T3; không dựa vào siêu âm hoặc xạ hình tuyến giáp hoặc độ tập trung i-od phóng xạ tại tuyến giáp. Nếu TSH > 0,1 mU/L loại trừ nhiễm độc giáp. Khi bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng do nhiễm độc giáp Nếu TSH ≤ 0,1 mU/L và FT4 cao và T3 cao nhiễm độc giáp lâm sàng điển hình. Nếu TSH ≤ 0,1 mU/L, FT4 bình thường, T3 cao đôi khi FT4 và T3 bình thường những FT3 tăng nhiễm độc T3. Nếu TSH ≤ 0,1 mU/L, FT4 cao, T3 bình thường nhiễm độc T4. Khi bệnh nhân không có các triệu chứng lâm sàng do nhiễm độc giáp hoặc có ở mức độ nhẹ, không đặc hiệu, TSH ≤ 0,1 mU/L, FT4, T3, và FT3 huyết thanh bình thường nhiễm độc giáp dưới lâm sàng. Nhiễm độc giáp do TSH Nhiễm độc giáp do TSH là nguyên nhân rất hiếm gặp gây cường chức năng tuyến giáp điển hình, hoặc do u tuyến tuyến yên tiết TSH hoặc do kháng một phần với quá trình feedback của T3 và T4 lên quá trình tiết TSH do thiếu hụt thụ cảm thể nhân T3 – T3-nuclear receptor. Bệnh nhân có bệnh lý nặng Những bệnh nhân nhiễm độc giáp kèm theo bệnh đồng mắc nặng không phải bệnh tuyến giáp hiếm khi có nồng độ T4 và T3 bình thường, thậm chí còn thấp. Nồng độ T4 và thậm chí nồng độ FT4 có thể bình thường do giảm nồng độ protein vận chuyển T4, gây ra bởi nồng độ thyroglobulin huyết thanh thấp, các chất chuyển hóa nội sinh hoặc thuốc và các yếu tố khác đẩy T4 ra khỏi vị trí gắn với các protein vận chuyển. Những thay đổi xét nghiệm tương tự nồng độ T4 huyết thanh thấp, nồng độ T3 huyết thanh thấp hoặc bình thường và nồng độ TSH thấp có thể gặp ở các bệnh nhân có chức năng tuyến giáp bình thường được điều trị tại các đơn vị điều trị tích cực. Do các bệnh nhân bị nhiễm độc giáp nặng và những bệnh nhân có bệnh lý nặng nhưng chức năng tuyến giáp bình thường đều có nồng độ TSH huyết thanh thấp, xác định bệnh nhân nào bị nhiễm độc có thể khó khăn, vì bệnh nhân bị bệnh lý nặng có thể có biểu hiện gần giống nhiễm độc giáp với các triệu chứng nhịp nhanh, run, yếu cơ. Chẩn đoán nhiễm độc giáp trong trường hợp này khi TSH Ở tất cả những bệnh nhân có bệnh lý nặng nghi ngờ cường giáp TSH Chẩn đoán phân biệt Cần chẩn đoán phân biệt nhiễm độc giáp với một vài tình trạng lâm sàng Tăng thyroxin máu chức năng tuyến giáp bình thường Những bệnh nhân này có các bất thường về các protein vận chuyển hormone tuyến giáp dẫn đến nồng độ T4 đôi khi độ FT4 cao và nồng độ T3 bình thường hoặc tăng nhẹ. Những bệnh nhân này có nồng độ TSH bình thường và không có triệu chứng của cường giáp. Nồng độ TSH thấp không nhiễm độc giáp Có vài nguyên nhân không phải là nhiễm độc giáp dưới lâm sàng gây ra nồng độ TSH thấp và nồng độ FT4 và T3 bình thường, bao gồm Suy chức năng tuyến giáp trung ương Một vài bệnh nhân bị suy giáp trung ương có nồng độ TSH thấp và nồng độ FT4 và T3 bình thường nhưng thường ở giới hạn thấp của bình thường. Bệnh lý ngoài tuyến giáp Bệnh nhân nhiễm độc giáp nhưng đồng mắc bệnh lý ngoài tuyến giáp, đặc biệt những bệnh nhân này được điều trị bằng glucorticoids liều cao hoặc dopamine, có thể có nồng độ TSH thấp nhưng nồng độ FT4 thấp ở giới hạn thấp của bình thường và nồng độ T3 huyết thanh rất thấp. Giai đoạn hồi phục sau khi nhiễm độc giáp Nồng độ TSH huyết thanh có thể vẫn còn thấp cho tới vài tháng sau khi nồng độ T4 và T3 huyết thanh ở bệnh nhân nhiễm độc giáp được điều trị về ngưỡng bình thường hoặc hồi phục từ tình trạng nhiễm độc giáp do viêm tuyến giáp. Giảm nồng độ TSH sinh lý ở phụ nữ mang thai. Thay đổi trục dưới đồi-tuyến yên-tuyến giáp ở một vài bệnh nhân cao tuổi mặc dù sức khỏe bình thường. Ở những bệnh nhân điều trị nội trú được phát hiện nồng độ TSH thấp và nồng độ FT4 và T3 bình thường, cách tiếp cận lâm sàng hợp lý là đánh giá lại bệnh nhân trong bốn đến tám tuần. Vào thời điểm đó, có thể thấy rõ nồng độ TSH thấp là do bệnh lý ngoài tuyến giáp hay do rối loạn chức năng tuyến giáp thật sự. Xét nghiệm bị thay đổi vì bệnh nhân uống biotin Uống từ 5 đến 10 mg biotin có thể làm sai lệch kết quả trong các xét đánh giá chức năng tuyến giáp bằng kỹ thuật sử dụng hệ thống ái lực biotin-streptavidin. Biotin có thể gây giá trị thấp giả tạo trong các xét nghiệm miễn dịch ví dụ xét nghiệm định lượng TSH, và tăng giả tạo trong các xét nghiệm sử dụng hệ thống gắn cạnh tranh ví dụ xét nghiệm định lượng T4, T3 và globulin miễn dịch ức chế gắn thụ cảm thể tuyến giáp [TBII hoặc TBI]. Những kết quả này gợi ý chẩn đoán bệnh Basedow; tuy nhiên, ngưng biotin sẽ giải quyết được những bất thường này. Xét nghiệm chức năng tuyến giáp nên nhắc lại ít nhất hai ngày sau khi ngưng biotin. Chẩn đoán nguyên nhân cường chức năng tuyến giáp Có hai tình huống Triệu chứng lâm sàng rõ ràng, bao gồm nhiễm độc giáp vừa hoặc nặng; bướu giáp to lan tỏa; bệnh lý mắt do tuyến giáp mới xuất hiện, chẩn đoán xác định là Basedow. Khi triệu chứng lâm sàng không rõ ràng không có bệnh lý mắt do tuyến giáp, cần làm thêm xét nghiệm để chẩn đoán. Các xét nghiệm bao gồm Định lượng thyrotropin receptor antibodies TRAb, còn gọi là TSI, TBII, hoặc TBI Đo độ tập trung iodine phóng xạ Đánh giá tốc độ dòng máu của tuyến giáp Bướu giáp lan tỏa định lượng TRAb, nếu TRAb dương tính, bệnh nhân không có thai, chẩn đoán là Basedow. Nếu TRAb âm tính, độ tập trung iodine phóng xạ hoặc tốc độ dòng máu của tuyến giáp tăng chẩn đoán là Basedow, nếu giảm chẩn đoán là viêm tuyến giáp. Bướu giáp nhân, đo độ tập trung iodine và xạ hình tuyến giáp Nếu tăng hấp thu iodine phóng xạ nhiều nhân, chẩn đoán là bướu giáp đa nhân nhiễm độc. Nếu tăng hấp thu iodine phóng xạ một nhân, chẩn đoán là u tuyến tuyến nhiễm độc. Điều trị Điều trị triệu chứng nhiễm độc giáp Điều trị triệu chứng nhiễm độc giáp với mục đích giảm các triệu chứng như đánh trống ngực, run, mệt mỏi cho tới khi kiểm soát được nhiễm độc giáp hoặc tình trạng nhiễm độc giáp thoáng qua thoái lui. Các thuốc được sử dụng bao gồm Chẹn thụ cảm thể β-adrenergic atenolol 25 – 100 mg mỗi ngày, propranolol 40 mg/lần, uống mỗi 6 đến 8h một lần. Chẹn kênh can xi chỉ định khi bệnh nhân chống chỉ định với chẹn thụ cảm thể β-adrenergic, ví dụ verapamil 40 đến 80 mg/lần, uống mỗi 8h một lần. Điều trị nguyên nhân nhiễm độc giáp Basedow Có ba phương pháp điều trị có thể chỉ định cho bệnh nhân Basedow thionamides, iodine phóng xạ và phẫu thuật cắt gần hoàn toàn tuyến giáp. Cả ba phương pháp điều trị đều có ưu điểm và nhược điểm, do vậy lựa chọn phương pháp điều trị nào phụ thuộc theo từng vùng địa lý và đặc điểm của bệnh nhân Bắc Mỹ Iodine phóng xạ là lựa chọn hàng đầu cho hầu hết bệnh nhân. Tuy nhiên, đây là phương pháp được lựa chọn khi bệnh nhân cao tuổi có nhiều bệnh kết hợp, Basedow tái phát sau phẫu thuật. Nhật Bản, châu Âu và Việt Nam thionamides là lựa chọn hàng đầu. Bệnh nhân có thai, cho con bú PTU là thuốc được lựa chọn hàng đầu cho ba tháng đầu thai kỳ, ba tháng giữa và ba tháng cuối lựa chọn điều trị bằng methimazole. Phẫu thuật cắt gần hoàn toàn tuyến giáp ở Việt Nam được chỉ định trong một số trường hợp, như Basedow thất bại với điều trị bằng thionamides, bướu giáp quá to chèn ép cơ quan xung quanh, bệnh nhân lựa chọn điều trị phẫu thuật. Các nguyên nhân khác Viêm tuyến giáp sau đẻ hoặc bán cấp có nhiễm độc giáp thoáng qua, do vậy chỉ cần điều trị triệu chứng của nhiễm độc giáp bằng atenolol, propranolol. Bướu giáp đa nhân nhiễm độc và u tuyến tuyến giáp nhiễm độc chỉ định điều trị bằng iodine phóng xạ trừ bệnh nhân có thai. Nhiễm độc giáp do iodine điều trị bằng thionamides và atenolol. Nhiễm độc giáp do amiodarone mặc dù một vài bệnh nhân được điều trị bằng glucocorticoid, nhưng hầu hết bệnh nhân đáp ứng tốt với thionamides. Các biện pháp điều trị Thionamides Hiện tại có ba thuốc được sử dụng là methimazole, carbimazole tiền chất của methimazole, và PTU. Đây là các thuốc ức chế enzyme peroxidase nên làm giảm quá trình tổng hợp hormone giáp. PTU còn ức chế chuyển T4 thành T3 ở ngoại vi do ức chế enzyme deiodinase típ 1. Methimazole, carbimazole được lựa chọn ưu tiên hơn PTU vì kiểm soát nhanh tình trạng nhiễm độc giáp và ít độc tính với gan. PTU được ưu tiên trong các trường hợp như ba thàng đầu thai kỳ, cơn bão giáp. Liều khởi đầu thông thường với PTU là 600 mg uống 3 lần mỗi ngày; methimazole là 10 đến 40 mg mỗi ngày, uống 1 hoặc 2 lần; liều cao hơn được chỉ định trong trường hợp nhiễm độc giáp mức độ nặng. Theo dõi để phục hồi tình trạng bình giáp mất vài tháng, do vậy bệnh nhân được đánh giá lại chức năng tuyến giáp mỗi 4 tuần một lần. Chỉnh liều thionamides dựa vào các triệu chứng lâm sàng và nồng độ FT4. Nếu nồng độ FT4 không giảm sau 4 đến 8 tuần nên tăng liều thionamides. Liều PTU và methimazole tối đa lần lượt là 1200 mg và 60 mg. Khi nồng độ FT4 trở về bình thường, liều điều trị phải giảm dẫn để duy trì nồng độ FT4 trong giới hạn bình thường. Không có đồng thuận về thời gian điều trị, nhưng thường điều trị trong 6 đến 24 tháng. Đáp ứng khoảng 1/3 bệnh nhân Basedow sẽ lui bệnh tự phát trong khi điều trị bằng thionamieds, trong các trường hợp nhiễm độc giáp nhẹ, mới khởi phát và bướu giáp nhỏ. Do những thuốc không có tác dụng lâu dài lên chức năng tuyến giáp nên phần lớn bệnh nhân Basedow sẽ tái phát trong vòng 6 tháng sau khi ngưng điều trị bằng thionamides. Các tác dụng ngoại ý hay xảy tra trong một vài tháng đầu trong quá trình điều trị bao gồm Tác dụng ngoại ý không nghiêm trọng, như ban, mày đay, sốt, đau khớp, giảm bạch cầu thoáng qua. Tác dụng ngoại ý nghiêm trọng, có thể đe dọa tính mạng, như mất bạch cầu hạt, viêm gan, viêm mạch, lupus ban đỏ do thuốc. Mất bạch cầu hạt có tỷ lệ khoảng 0,3%, với các triệu chứng gợi ý như sốt, đau họng, xét nghiệm công thức bạch cầu không có hữu ích trong tiên đoán tình trạng mất bạch cầu hạt. Viêm gan xảy ra với triệu chứng gợi ý là vàng da. Các tác dụng ngoại ý sẽ hết sau khi dừng thionamides. Iodine phóng xạ Một liều đơn I-131 có thể kiểm soát lâu dài tình trạng nhiễm độc giáp trong khoảng 90% bệnh nhân, trường hợp chưa kiểm soát được có thể chỉ định liều tiếp theo. Chống chỉ định ở phụ nữ có thai hoặc cho con bú. Tính liều điều trị dựa vào độ tập trung iodine phóng xạ. Phần lớn bệnh nhân Basedow được điều trị với liều 8 đến 10 mCi, bướu giáp đa nhân nhiễm độc bắt buộc điều trị với liều cao hơn. Thionamides ức chế quá trình hấp thu iodine phóng xạ vào tuyến giáp, do vậy cần ngưng điều trị 3 đến 7 ngày trước khi bắt đầu điều trị bằng iodine phóng xạ. Theo dõi Cần một vài tháng để bệnh nhân trở về bình giáp sau khi điều trị bằng iodine phóng xạ, do vậy bệnh nhân được tái khám mỗi mỗi 4 đến 6 tuần một lần để đánh giá các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm nồng độ FT4. Nếu chức năng tuyến giáp ổn định trong giới hạn bình thường khoảng cách tái khám giãn dần tới một năm một lần. Nếu bệnh nhân xuất hiện suy giáp có triệu chứng nên được điều trị bằng levothyroxine. Những bệnh nhân suy giáp nhẹ có thể thoáng qua, nên theo dõi thêm 4 đến 6 tuần để đánh giá bệnh nhân có tự hết suy giáp. Bệnh nhân còn nhiễm độc giáp sau 6 tháng điều trị bằng iodine phóng xạ bắt buộc điều trị lần thứ hai. Tác dụng ngoại ý Suy giáp xảy ra ở hơn nửa bệnh nhân trong năm đầu tiên sau khi điều trị bằng iodine phóng xạ, sau đó tiếp tục xuất hiện với tốc độ xấp xỉ 3% một năm. Nhiễm độc giáp tiến triển nặng do giải phóng hormone dự trữ từ các nang giáp vào máu làm trầm trọng thêm tình trạng nhiễm độc giáp, điều này có ý nghĩa với bệnh nhân đồng mắc các bệnh lý tim mạch nặng, như rung nhĩ, suy tim. Điều trị bằng thionamides cho tới khi bình giáp trước khi điều trị iodine phóng xạ sẽ phòng ngừa được tác dụng ngoại ý này. Không có bằng chứng chắc chắn cho thấy điều trị bằng iodine phóng xạ làm tăng nặng bệnh mắt do tuyến giáp. Phẫu thuật cắt gần hoàn toàn tuyến giáp Phẫu thuật cắt gần hoàn toàn tuyến giáp là phương pháp điều trị giúp kiểm soát lâu dài nhiễm độc giáp ở phần lớn bệnh nhân. Phẫu thuật có thể kích hoạt cơn bão giáp ngay sau khi phẫu thuật, do vậy cần điều trị chuẩn bị bằng hai phương pháp sau Thionamides được sử dụng cho tới khi gần bình giáp. Dung dịch kali iodua đặc hoặc loãng dung dịch lugol được dùng 1 đến 2 tuần trước khi phẫu thuật, cả hai thuốc này sẽ được ngưng sử dụng sau phẫu thuật. Atenolol 50 – 100 mg được bắt đầu sử dụng 1 đến 2 tuần trước khi phẫu thuật. Liều điều trị có thể tăng lên để duy trì nhịp tim để duy trì nhịp tim lúc nghỉ nhỏ hơn 90 lần/phút và tiếp tục sử dụng 5 đến 7 ngày sau phẫu thuật. Theo dõi Đánh giá lại tình trạng lâm sàng và nồng độ FT4 cho bệnh nhân 4 đến 6 tuần sau phẫu thuật. Nếu chức năng tuyến giáp bình thường, bệnh nhân được đánh giá lại vào thời điểm 3 đến 6 tháng sau phẫu thuật và giãn dần một năm một lần. Nếu bệnh nhân bị suy giáp có triệu chứng sẽ được điều trị bằng levothyroxine. Suy giáp nhẹ sau phẫu thuật có thể thoáng qua và những bệnh nhân không có triệu chứng nên được theo dõi thêm 4 đến 6 tuần để xác định xem suy giáp có hồi phục. Khoảng 3 đến 7% bệnh nhân còn nhiễm độc giáp hoặc tái phát nhiễm độc giáp sau phẫu thuật. Biến chứng Suy giáp với tỷ lệ 30 đến 50%. Suy cận giáp với tỷ lệ 3%. Các biến chứng hiếm khi xảy ra bao gồm liệt vĩnh viễn dây thanh âm do tổn thương thần kinh thanh quản quặt ngược và tử vong do phẫu thuật. Tài liệu tham khảo Bộ Y tế. 2015. Cường chức năng tuyến giáp. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nội tiết – chuyển hóa. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 51-70. Clutter W. E. 2008. Hyperthyroidism. Endocrinology Subspecialty Consult second edition. p. 49-55. Jameson J. L., et al. 2015. Disorders of thyroid gland. Harrison’s Principles of Internal Medicine, 19 edition, McGraw-Hill Education, 2284-2308.

nhiễm độc giáp với bướu lan tỏa